Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

Nên chọn hóa thành hay bảo sở

Hồi Đức Phật còn tại thế, tại Núi Linh Thứu, khi giảng Kinh Pháp Hoa, Ngài muốn Khai Thị cho chúng sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến. Nhưng với Diệu Pháp cao thâm vi diệu, khó có ai thấu đạt liền nổi, sợ chúng sanh chán nản bỏ cuộc giữa chừng, nên Ngài mới hiện ra Hóa Thành, để tạm nghỉ, lấy sức lực lại, rồi Ngài mới tiếp tục hướng dẫn tới Bảo Sở.

- Hóa Thành: là chỗ hóa ra chưa phải thật (nơi nghỉ tạm thời và hoa trái dọc đường, chứ chưa phải là đích đến).
- Bảo Sở: là chỗ quý báu chân thật (là cõi Phật, là Phật tánh, rõ ràng, thường biết, diệu dụng, lợi ích vô cùng, không bao giờ mất, luôn hiện hữu trong ta).

Trong thời buổi văn minh, hiện đại, với sự tiến bộ vượt bực của khoa học về khai thác và xây dựng, nhất là khâu truyền thông, kỹ thuật số, đã giúp cho con người, dường như xích lại gần nhau hơn và mọi tiện nghi vật chất, dường như phục vụ đầy đủ mọi nhu cầu!

Đồng hành cùng sự phát triển ấy, Phật Giáo bây giờ cũng hiện diện khắp nơi, từ Á sang Âu, Mỹ, Úc đến Phi châu, Chùa, Viện mọc lên khắp cả.

Xin chân thành cúi đầu đảnh lễ, ngưỡng mộ, tri ân các bậc tiền bối hữu công, đã dày công khai sơn, phá thạch, xây dựng nên những ngôi Phạm vũ huy hoàng, hay những chốn Thiền Môn, Lan nhã hữu tình, để cho chúng sanh, có nơi quy ngưỡng và thực hành Pháp Phật. Những nơi nầy rất đáng được bảo toàn, duy trì và phát triển, để cho chúng sanh được nhiều lợi lạc, góp phần truyền bá Phật Pháp, xây dựng một xã hội tốt đẹp, an lành.

Xin đảnh lễ và vô cùng thán phục, những vị có hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng, đã hy hiến cuộc đời mình, để "hòa quang đồng trần," cùng sẻ chia, lặn lộn với chúng sanh, đầy đau khổ nơi cõi Ta bà nầy. Có vị qua đây trui rèn, lập chí, tu luyện, ẩn nhẫn, phụng sự chúng sanh, để hạ dần bản ngã, hầu đi vào được cửa đạo, với đạo đức sáng ngời và từ đây chúng sanh quy hướng, lợi lạc quần sanh, hữu ích cho muôn loài. Nhưng cũng có lắm vị, khi chưa chứng A La Hán mà tự tin, sống dễ duôi, thoải mái, cho tâm mình, thuận theo dòng đời, đúng lý ra "tùy duyên bất biến" nhưng rồi "thiên biến vạn hóa, biến thái," để bị dòng đời vùi dập, nhận chìm và cuối cùng là "thân bại danh liệt" thảm thương vô cùng!

Đức Bổn Sư Thích Ca của chúng ta đã liễu triệt được tất cả. Vì lòng từ bi vô hạn, khi thành đạo rồi, đúng ra Ngài đã nhập vào "vô dư niết bàn," nhưng vì thương xót chúng sanh, đang quằn quại trong khổ đau, hoặc là đang mãi mê trong nhà lửa, nên Ngài phải chịu khó suốt 49 năm trường, lặn lội khắp các vùng của Ấn Độ, để gieo duyên hóa độ muôn loài, qua nhiều bài Kinh giảng dạy lắm cao siêu, nhưng cũng rất là đầy thực tiễn.

Đặc biệt nhất là bài Kinh Di Giáo, về cuối cuộc đời, sắp từ giã cõi trần và các đệ tử thân thương. Với sự chứng đạo đầy sự thông suốt, cũng như nhiều trải nghiệm xương máu, trong quá trình cuộc sống cũng như hành đạo, Ngài đã có những lời dặn dò, thật là cụ thể, thắm thiết, gần gũi và bình dị. Là người con Phật, chúng ta phải "y giáo phụng hành" thì mới mong tự cứu được bản thân và tha nhân hầu đền được phần nào, ơn đức sâu dày của Đức Phật.

Tại sao Đức Bổn Sư đã thành Phật rồi, lại dẫn đệ tử, toàn là Thánh Tăng, hằng ngày phải đi vào làng "khất thực"? Có phải chăng, vì muốn hóa duyên và không muốn cho đệ tử của mình, lo hưởng thụ và lớn dần "bản ngã." Mà xuyên suốt trong các lời giảng dạy, hoặc luật nghi để ra, Ngài cũng đều muốn cho hàng đệ tử phải bào mòn "ngã chấp." Vì theo Ngài đã thấy, đã biết, sự nguy hiểm của "bản ngã," nên khi mới vừa ra đời, Ngài đã truyền đi Thông Điệp: "Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn!"

Kế thừa Ngài, trong thời hiện đại, có Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, cũng đã dạy: "Nếu một người tu mà trải qua năm tháng hành đạo, không thấy mình tầm thường hơn, giản dị hơn và khiêm tốn hơn thời gian ban đầu, thì có lẽ là ta đã đi lạc đường rồi!" hay "Càng tu lâu chừng nào, càng thấy mình, không là gì cả, đấy mới chính thực là tu." Trong Bài Khấn Nguyện hằng đêm thường tụng có: "…Tự thấy mình nhỏ thôi, việc tu còn kém cỏi…"! Vì "vô ngã" là Niết bàn, tuy không thấy là gì cả, nhưng diệu dụng vô cùng, cũng giống gió, bão, hay động đất, sóng thần, không thấy gì, nhưng mỗi khi xuất hiện, thì tàn phá kinh hoàng, thảm khốc. Nên có câu "chân không diệu hữu," tuy không thấy gì nhưng mỗi khi vận dụng, có thể cải tạo và thay đổi cả thế giới. Phật tánh cũng diệu dụng như vây, bàng bạc ở khắp nơi và có trong khắp muôn loài, nhưng vì "ngã chấp" mà làm mê mờ "bản tánh chân như, đầy sáng suốt" của chúng ta, và khiến ta tạo tội lỗi vô cùng.

Như vậy, nhiệm vụ chính của người tu là luôn soi rọi lại lòng mình và nhắc nhở, tạo điều kiện, bằng cách xây Chùa, tạo Tu viện, dựng Đạo tràng để tu tập giúp đỡ cho mọi người "tiêu trừ ngã chấp," cũng như thực hành hạnh bố thí và sống đời thương yêu nhiều hiểu biết.

Người tu sĩ thấy khổ của cuộc đời, mới đi tu để thoát khổ và cứu khổ cho muôn loài. Người thế gian, cũng thấm thía được sự vô thường và nỗi khổ, niềm đau của nhân thế, nên cũng muốn đến chùa, hướng về Tam bảo, cũng không ngoài mục đích là tìm đường thoát khổ, đây là một nhu cầu thiết yếu.

Cho nên để đáp ứng chu toàn những nhu cầu thiết yếu ấy, trách nhiệm của người Tu rất nặng nề, nhưng cũng rất cao siêu, thanh thoát, đó là phải thực hành, trải nghiệm và chứng được Đạo, nghĩa là phải hoàn toàn, giác ngộ, giải thoát, liễu triệt rành rẽ được con đường giải thoát, hầu vững vàng hướng dẫn chúng sanh, an toàn vượt qua được nỗi khổ niềm đau. Hay nói cho dễ hiểu, gần gũi với đời thường nhất là, phải có vốn, có năng lực, rồi mới nghĩ đến việc muốn giúp ai, có của rồi nghĩ đến việc cho, chứ chưa có gì, mà nghĩ đến cho, thì lấy cái gì mà cho?

Xây Chùa hay Tu Viện phải có tâm nguyện: "Tiếp Tăng Độ Chúng," "là của bá tánh, chứ không của riêng ai," "không tự tư, tự lợi," "truyền hiền chứ không truyền tử," phải là Đạo Tràng Tu Học, để cho chúng sanh có nơi quy hướng, tu tập, trải nghiệm và thoát được khổ đau, sống được cuộc đời an lạc nhiều lợi ích cho đời, tất cả mọi phương tiện cũng phải phục vụ cho mục đích tối thượng nầy, thì Long Thiên Hộ Pháp mới hộ trì và chiêu cảm được những Phật tử thuần thành đến tu học. Bèn ngược lại, chỉ là những "danh lam thắng cảnh," "hướng ngoại tìm cầu" chạy theo đường danh lợi, vui chơi, giải trí, để chúng sanh, không lo 'thoát ly sanh tử' mà mê đắm cõi trần gian, đầy đau khổ này, thì thật là đáng thương hại và không đúng với bản hoài của Chư Phật, chư Tổ, sẽ khó tồn tại được lâu dài, mà lại nặng nợ với bá tánh, những người đã phát tâm đóng góp, tịnh tài, tịnh vật và cả tấm lòng, mong cho Phật Pháp xương minh, để lợi lạc được nhiều quần sanh.

Đức Phật và Chư Tổ đã hiểu rõ, tâm mình và tâm của chúng sanh, "tâm viên ý mã" nên đã quyết định, từ bỏ hết mọi ràng buộc, xa lìa hết mọi tiện nghi, vật chất, công danh, sự nghiệp… để vào rừng, lánh xa trần thế, mới yên bề tu tập và mới có thể chứng được đạo. Bây giờ liệu chúng ta có hơn được Phật, Tổ, mà dám hiên ngang, xông pha vào ngũ dục?

Đức Phật và Chư Thánh Chúng phải đi khất thực và ngủ dưới mỗi gốc cây, không quá 3 đêm, vì sợ dính mắc, mà quên đi hạnh nguyện. Liệu chúng ta, có hơn được Đức Phật và Thánh Chúng mà dám xây Chùa to Phật lớn, giống như cung điện nguy nga, lộng lẫy, với đầy đủ tiện nghi vật chất, mà vẫn bảo toàn được giới hạnh?

Đa số chúng sanh, quá đau khổ, trong cõi trần ai, nhiều thị phi, phiền não và đầy cám dỗ với lắm oan trái nầy, đang muốn thoát khỏi vòng sanh tử, khổ lụy, nên nhu cầu và phong trào tu học rất cao. Có nhiều vị đã buông xả hết những thành tựu sự nghiệp vật chất ở thế gian, hoặc hiến hết cho việc hoằng truyền Phật Pháp, nỗ lực tự tu hành tại gia, rất là miên mật và nhiều tiến bộ. Có nhiều vị rất muốn yên tu, nhưng chưa định hướng được đường tu, nên đã phải chạy lung tung, để tìm Thầy, tìm "minh sư," rồi cuối cùng mỏi mệt, tìm về xây dựng riêng cho mình một không gian tĩnh lặng, để trở lại với mình, hầu có được sự bình yên sáng suốt. Là người hướng dẫn tinh thần, chịu trách nhiệm phần tâm linh, liệu chúng ta có đủ năng lực, với đầy từ bi, trí tuệ, có được tinh thần tĩnh lặng, hay một không gian giúp cho mọi người cùng tĩnh lặng, hầu thay Phật dẫn dắt những chúng sanh nầy, thoát vòng khổ lụy?

Trong Kinh Khu Rừng, theo kinh nghiệm của Thế Tôn, có dạy: "…Nếu khu rừng nào mà không cải thiện được đời sống tâm linh, không thăng tiến về định tuệ thì dù cho nơi ấy có đời sống sung túc cũng phải từ bỏ ngay lập tức. Ngược lại, khu rừng nào mà nơi ấy sự tu tập ngày càng tiến bộ, dẫu đời sống khó khăn thì cũng nên ở lại, nếu đủ duyên thì có thể ở lại đến trọn đời."

Vì thế, những vị có trách nhiệm lãnh đạo các chùa viện, ngoài việc lo xây dựng chùa to Phật lớn, chăm lo đời sống vật chất, điều đặc biệt cần quan tâm nhất, đó là việc thăng hoa tâm linh cho Phật tử. Sự ổn định và phát triển về phương diện vật chất tuy cần, nhưng điều thiết yếu, vẫn là sự tiến bộ về tinh thần.

Đất lành thì chim đậu. Cũng vậy, chùa, viện nào có sự tĩnh lặng, giúp cho chúng sanh bớt khổ, thêm vui, có tiến bộ tâm linh để được an lạc và giải thoát, thì rất nhiều chúng sanh tìm về nương tựa. Điều này lý giải "chùa, viện" hiện nay, bên ngoài nguy nga, tráng lệ, sung mãn vật chất, nhưng thiếu vắng các bậc Chân Tu, và Phật tử thuần thành về tu, bởi nơi đây không xây dựng, hun đúc được chất liệu an tịnh và giải thoát, nên chưa chiêu cảm được những điều tương ưng.

Người thế gian, do mê đắm tiền tài, danh lợi, nên đã bị vật chất kéo lôi, sai sử, khiến bù đầu vào công việc, quên cả bổn phận làm cha, làm mẹ, bỏ con bơ vơ, hụt hẫng, thiếu đi tình cảm, mất sự đầm ấm gia đình, để rồi nhiều con cái hư đốn, nhiều gia đình tan nát hạnh phúc. Đối với người tu, đừng giống như thế gian, mà người xưa đã nói: "Ca-sa vị trước hiềm đa sự, trước dĩ ca-sa sự cánh đa" (Ca-sa chưa mặc than nhiều việc, được mặc ca-sa việc lại nhiều), để rồi đánh mất tự thân, lao vào sự lăng xăng, bận rộn, không có được sự tĩnh lặng, quên đi nhiệm vụ độ sanh, từ đó đã sai với ý của Tổ là: "Ngoài cắt chư duyên, trong không toan tính, tâm như tường vách, khả dĩ nhập đạo." Ta đi ngược lại, thì làm sao thấy được đạo và có được đạo lực mà hóa độ chúng sanh?

Nên nhớ rằng: "Giáo bất nghiêm, sư chi đọa." Trong luật Phật cũng có dạy: "Mỗi năm, vị Thầy chỉ nhận một đệ tử để nuôi dạy đến khi đệ tử vững vàng thọ Tỳ-kheo rồi, mới được nhận đệ tử khác." Trách nhiệm của người Thầy rất quan trọng, liệu chúng ta có được "minh sư" chịu chú ý đến sự dạy dỗ một cách cẩn trọng? Làm chủ một Tự Viện, trăm công ngàn việc, nào việc chùa, việc giáo hội, rồi việc giao tế; có nơi còn lo việc xây dựng, hết công trình nầy, đến công trình khác mọc lên… có thời gian và tâm trí đâu mà để ý đến việc sinh hoạt hằng ngày của chúng và đầu tư cho giảng dạy, đặc biệt là việc tu tập. Nhận đệ tử không có thời gian dạy, rồi năm tháng dần trôi, tâm hồn không thấm tương chao và nhuộm màu Phật pháp, mà tự bơi, tự lội, gặp cảnh sao cho khỏi chẳng sinh tình, rồi làm những điều mà tự thân cũng không biết là đúng hay sai với Phật Pháp!

Chỉ cần một Phật, Tổ mà hóa độ được vô lượng chúng sanh. Thà rằng chỉ nhận ít đệ tử mà giáo dục nên người hữu ích, còn đáng khen hơn, ham quy y đồ chúng nhiều, mà độ chẳng được bao nhiêu, không đến nơi, đến chốn. Thà rằng am tre, chùa nhỏ nhưng sự giáo dưỡng tận tình, chu đáo còn tốt hơn chùa to, Phật lớn mà thầy trò lạc lõng lẫn nhau. Thà làm một người thầy bình thường, mà lo cho đệ tử tốt, còn hơn nhiều chức vụ, vinh dự mà đệ tử chẳng nên người. Tề gia rồi mới trị quốc, bình thiên hạ. Tu thân, tề gia chưa xong, mà nghĩ đến việc Trị quốc và Bình thiên hạ, thì quá xa vời. Nên nhớ: Tề gia cho được tốt thì thiên hạ tự thái bình!

Người đời, do hướng ngoại tìm cầu, quá chán ngán cảnh thế gian, nhiều tranh đua, phân biệt, loạn động, nên muốn tìm nơi an tịnh, để thư giãn tâm hồn và tìm về bờ giác. Liệu chúng ta có đủ năng lực, "buổi sáng mang cho họ niềm vui, buổi chiều giúp cho họ bớt khổ," để cùng nhau tấn tu, đồng về bến giác?

Mỗi người muốn thành "siêu sao," phải cực lực nhiều ngày, đêm ra công khổ luyện, đấy mới chỉ là để phục vụ cho vui chơi, giải trí thôi! Còn chúng ta muốn "thành Phật, thành Thánh, thành Tổ," để cứu độ chúng sanh thoát ly khổ nạn, mà "tu tài tử," "vừa tu vừa thụ hưởng," liệu có bao giờ đạt được? Pháp của Phật không hành, mà chỉ để hý luận và phô diễn, thì liệu có bao giờ thấy đạo? Hằng bữa ăn, không "tam đề, ngũ quán," thì liệu cơm tín thí có tiêu? và nợ bá tánh biết bao giờ trả cho hết?

Muốn làm Thầy, để hướng dẫn cho chúng sanh, giải quyết được những nhu cầu thiết yếu, trong cuộc sống hiện tại, chúng ta phải hành trì, trải nghiệm và chứng ngộ. Lúc đó "trí tuệ" phát và lòng "từ bi" hiển lộ, sẽ giúp cho chúng ta, "Tâm như thái hư, lượng châu sa giới" để có được sự quảng đại, sống quân tử, cao đẹp, biết tôn trọng, tha thứ, lắng nghe, thương cảm, thông hiểu và sẻ chia với mọi người. Đấy là đức tánh vẹn toàn của người tu, và chỉ có được như vậy, mới có được sự thanh thoát, chiêu cảm được những người tốt và điều tốt đến với ta. Từ đó mới hoàn thành được nhiệm vụ "Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự"!

Người tu phải sống tịch tịnh, rõ ràng thường biết, sống khiêm cung có đạo đức, sống có hậu, biết quan tâm đến người khác, "hoặc là người thọ hạ kinh hành, không ham quyền quý, ẩn danh lâm tòng…" chừng đó đủ cho mọi người tôn kính và lễ lạy. Đấy mới là nhiệm vụ và phẩm hạnh của người tu, chứ không phải ở nhiều mưu toan, tính toán, nhiều danh lợi và ở sự tài giỏi chuyện thế gian! Có sống được thong dong, tự tại, thanh thoát, cao siêu, như vậy, mới xứng đáng là: "Thiên nhân chi đạo sư," mới xứng đáng cho vua, dân và mọi người khi đối diện, đều phải lễ lạy!

Chứ không thể "hòa quang, đồng trần," chạy theo phục vụ nhu cầu, thỏa mãn thị hiếu, cũng như tạo danh lợi, trong sự "hưởng thụ," với chúng sanh, để rồi "từ sáng đi vào tối" trở thành "ông chủ ngục," hay phải "lệ thuộc, chìu lụy thế gian" thì cũng thật đáng thương hại, biết chừng nào!

Nhiệm vụ của bác sĩ là lo chữa bệnh, của kỹ sư là lo xây dựng, của thầy, cô giáo lo đào tạo những con người có tri thức, của công nhân lo chế tạo vật dụng, của nông dân lo sản xuất nông sản, của thợ dệt, thợ may là lo sản xuất áo quần… Đặc biệt với nghề nghiệp tu sĩ, nhiệm vụ chính, là phải tu cho có đạo lực, để hun đúc nên những con người "Chân, Thiện, Mỹ" hầu xây dựng một xã hội an lành, hạnh phúc, hướng thượng... Ông bà ta có câu: "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" phải chuyên chú vào trau dồi nghề nghiệp của mình; mà trong nhà Thiền có câu dạy rất cụ thể: "phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" phải luôn tu hành như vậy, thì mới mong có được sự thăng tiến, để giải thoát, giác ngộ, thoát ly sanh tử. Nhưng phải luôn ý thức rằng: "Giải thoát chỉ có thể đạt được qua tu tập, chứ không phải qua bàn luận." Pháp Phật là pháp hành, chỉ có hành kiên trì và miên mật, đạt được chân lý tối thượng, nghĩa là đạt đến cứu cánh Niết Bàn, An Lạc vĩnh cửu, giống như mài củi phải liên tục và bền bỉ, mới có được lửa, chứ Pháp Phật không phải chỉ để nghiên cứu, để phô diễn, để có phước đức hay để có được vinh dự...

Chỉ có những tu viện chuyên tâm tu tập, hoặc các chùa, chuyển thành tu viện, để chư tăng và Phật tử đến chùa chỉ biết "tu," với "tâm tốt" hầu có được "suy nghĩ tốt, lời nói hay, hành động đẹp" đối đãi với nhau, cho cuộc sống được an lạc, lợi ích cho tha nhân, thì mới mong giải quyết được những nhu cầu thoát khổ, chứ không phải đến chùa để "trổ tài" hay chỉ lo làm "công quả phước điền" hoặc tham gia phô trương các sự kiện, có tính hình tướng, chỉ làm cho khổ lụy và tạo nghiệp bất thiện thêm thôi!

Người đời thích loạn động, hướng ngoại tìm cầu, nên mới khổ. Người tu muốn hết khổ, phải đi ngược dòng đời, tìm nơi tịch tịnh, quay vào quán chiếu nội tâm, quan tâm đến phần tinh thần, mới thành tựu được đạo quả. "Hữu xạ tự nhiên hương," khi mình có đủ đạo hạnh rồi, thì dầu ở trong núi vắng, vẫn có người tìm đến quy y, học đạo. Lúc đó rồi hãy nghĩ đến việc độ sanh, chứ chưa được gì, mà thuận theo dòng đời, thì chỉ bị nhận chìm và mất mạng mà thôi!

Chùa to Phật lớn, những thời Pháp thoại, những cơ sở vật chất, phục vụ cho việc hoằng dương Chánh Pháp… mới chỉ là Hóa Thành, để cho chúng sanh tạm yên nghỉ, hóa giải phần nào nỗi khổ niềm đau, còn mục đích tối thượng là phải có nơi "tu hành" đạt đến giải thoát, giác ngộ, để không còn khổ đau, sống đời từ, bi, hỷ, xả, bao dung, quảng đại, đó mới là Bảo Sở và cứu cánh của người tu.

Vậy mỗi chúng ta, hãy hồi quang phản chiếu, lấy "Trí Tuệ làm Sự Nghiệp," lấy "Bảo Sở" làm đích đến, từ đó "định hướng" lại đường tu và cơ sở của mình, để mà điều chỉnh kịp thời, cho "hiện tại và tương lai" có được một nơi Tĩnh lặng, chuyên hướng về tu tập Giới, Định, Tuệ, để giúp cho mọi người muốn tu, có được nơi quy hướng, hầu có được trí tuệ sáng suốt, lòng từ bi rộng lớn với tâm bao dung, mà hưởng được trọn niềm an lạc, chứ an vị trong "Hóa Thành" mãi thì: "lang thang làm kiếp phong trần, quê nhà ngày một muôn lần dặm xa" để "lớn bản ngã" phải trả quả như Ngộ Đạt Pháp Sư, hay chàng dũng sĩ trong "Cửa Tùng Đôi Cánh Gài" thì uổng cho một kiếp người, đã nhiều năm hướng về tu tập, hành đạo, mà kết quả thì chẳng được chi, có khi lại quá ê chề, thê thảm!

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát

--
Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến

         Liên Phật Hội
United Buddhist Foundation
A 501 (c) (3) Non-profit Organization



Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Returning Home - Khóa tu dành cho tuổi trẻ tại hải ngoại




Đối với hầu hết các Phật tử Việt Nam định cư tại hải ngoại hiện nay, niềm ưu tư khắc khoải lớn nhất không còn là những khó khăn về kinh tế gia đình hay sự hội nhập với nền văn hóa mới, mà chính là làm sao để bảo tồn những vốn quý văn hóa dân tộc đã mang theo được đến xứ người. 

Trong những vốn quý đó, niềm tin cũng như những hiểu biết về Phật pháp được xem là đang có nguy cơ suy giảm ở các thế hệ tiếp nối. Nhiều bậc phụ huynh đang gặp khó khăn rất nhiều trong việc giải thích để con cháu họ hiểu được ý nghĩa của những nghi thức lễ bái, tụng niệm mà họ thực hành hằng ngày tại nhà, hoặc các lễ nghi tôn giáo được thực hiện ở các chùa mà họ rất muốn con cháu họ cùng tham gia. Đó là chưa nói đến những vấn đề sâu xa hơn như các phần giáo lý về nhân quả, về duyên khởi hay Tứ diệu đế, Bát thánh đạo... thì lại càng khó khăn hơn nữa.

Và như một hệ quả tất yếu của thực trạng này, khi các em không nhận hiểu được những ý nghĩa sâu xa của tín ngưỡng mà gia đình đang theo, các em sẽ dần dần cảm thấy xa lạ với chính tôn giáo đó. Bước tiếp theo chỉ còn là vấn đề thời gian, đó là khi các em bước chân vào ngưỡng cửa đại học thì luôn sẵn có các tôn giáo bản địa đang chờ đón và mời gọi các em, với các yếu tố tín ngưỡng mà đối với các em là dễ hiểu và quen thuộc hơn nhiều, bởi lý do đơn giản là các em đã sinh ra và lớn lên trong chính môi trường mà các tôn giáo ấy từ xưa nay vẫn chiếm đa số tuyệt đối.

Với thực tế này, nhiều bậc phụ huynh hết sức lo lắng khi nghĩ đến việc trong tương lai con cháu họ sẽ không còn biết đến đạo Phật, bởi họ không thể nào trao truyền lại cho các em những hiểu biết và niềm tin mà họ đã theo đuổi trong suốt cuộc đời.

Một trong những lý do quan trọng dẫn đến thực trạng nêu trên là sự cách biệt về ngôn ngữ. Trong khi phần lớn những người thuộc thế hệ người Việt đi trước chỉ có thể nói được tiếng Anh trong chừng mực giao tiếp xã hội hoặc trong công việc, và rất hạn chế trong việc giảng giải những ý nghĩa tu tập hay giáo lý đạo Phật, thì ngược lại các em thuộc thế hệ trẻ lại chỉ có khả năng sử dụng lưu loát tiếng Anh, trong khi rất ngại phải nghe diễn đạt các vấn đề phức tạp hay khó hiểu bằng tiếng Việt. Hầu hết các em đều chỉ nói được tiếng Việt trong chừng mực nhất định và do đó tất nhiên là không thể sử dụng tiếng Việt để tìm hiểu sâu xa về giáo lý đạo Phật.

Một giải pháp cho sự bế tắc này dường như vừa hé lộ vào sáng ngày Thứ Bảy, 20 tháng 5 năm 2017, tại Như Lai Thiền Tự, San Diego, California. Nơi đây vừa khai mạc một khóa tu đặc biệt với chủ Đề "Returning Home" (Trở Về) dành cho tuổi trẻ, dự kiến trong 2 ngày sẽ hướng dẫn các em tu tập và giảng dạy giáo lý cho các em bằng tiếng Anh.

Đây là một thí điểm đáng được trân quý, gìn giữ và phát huy, bởi nếu thành công sẽ cần được nhân rộng để trở thành một giải pháp chủ yếu nhằm truyền trao Đạo Phật đến với tuổi trẻ tại Hải Ngoại. Không những là giải pháp cho các Phật tử con em người Việt, mà các khóa tu giảng bằng tiếng Anh như thế này cũng sẽ là phương thức hiệu quả để giới thiệu đạo Phật đến với các em tuổi trẻ người bản xứ.

Để chuẩn bị cho khóa tu này, Thầy Giác Minh Luật và quý thầy trong Ban tổ chức đã ngày đêm lo lắng nhọc nhằn để chu toàn mọi thứ. Chứng minh khóa tu là Hòa thượng Thích Minh Hồi, Viện chủ Như Lai Thiền Viện. Ngoài ra là các vị Giáo thọ sư như quý thầy Châu Đạt, Đạt Tín v.v... Các huynh trưởng GĐPT cũng tích cực tham gia trong vai trò tổ chức và điều hành sinh hoạt của các em trong suốt khóa tu.

Với phương thức sinh hoạt mới mẻ, thích hợp với tuổi trẻ, Khóa tu đã mang lại niềm vui và sự yêu thích cho tất cả các học viên tham gia. Thông qua đó, các em hiểu được một số điều căn bản về giáo lý Phật pháp, và quan trọng hơn nữa là có được sự thích thú để sẵn sàng quay lại tham gia các khóa tu tiếp theo trong tương lai.

Ước mong quý thầy trú trì cùng Chư Tôn Đức Tăng Ni trẻ có chung hoài bão này sẽ tiếp tục phát huy thành tựu hôm nay để tiếp tục con đường hoằng pháp đến với thế hệ trẻ bằng chính ngôn ngữ mà các em, các cháu có thể dễ dàng đón nhận, để nhận được nhiều lợi lạc từ Giáo pháp của đạo Giác Ngộ mà Đức Bổn Sư đã truyền trao cho chúng sanh từ hơn 25 thế kỷ qua. 

Dưới đây là một vài hình ảnh trực tiếp ghi nhận từ khóa tu:

Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Một ngày tu tập bắt đầu từ sáng sớm... 

Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Điểm tâm nhẹ nhưng rất vui... 

Liên Phật Hội

Lễ Phật... 

Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Nghe pháp... 

Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Liên Phật Hội
Cuộc thi vẽ đầy hứng thú... 

Liên Phật Hội

Returning Home... 

--
Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến

         Liên Phật Hội
United Buddhist Foundation
A 501 (c) (3) Non-profit Organization




United Buddhist Foundation - Liên Phật Hội - A non-profit 501(c)3 to connect and dedicate for developing Buddhism, especially Buddhist public communication. - Tổ chức phi lợi nhuận nhằm liên kết và phụng sự cho việc phát triển Phật giáo, đặc biệt là truyền thông Phật  giáo.

Lời Phật dạy về tình yêu thương



Trong tình yêu thương không gì gắn bó và quyến luyến bằng tình yêu nam nữ, bất cứ lời nói và cử chỉ nào, chúng ta cũng phải biểu lộ sự yêu thương trong tương kính. Đã làm người dù trai hay gái phải biết tôn trọng người mình đang yêu, cả thể xác lẫn tâm hồn. Mấu chốt của hạnh phúc gia đình trong hôn nhân tình yêu, người con gái phải biết giữ gìn, khéo léo trong mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái nhằm nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Trong đạo Phật, lòng từ bi luôn gắn liền với trí tuệ. Không hiểu nhau, không thể thương yêu trọn vẹn vì ta không thể cảm thông và tha thứ, nhất là những người có quan niệm gia trưởng. Mỗi người đều có những nỗi khổ niềm đau riêng, bởi áp lực của công việc và trách nhiệm đối với gia đình, nếu chúng ta không thật sự hiểu về nhau, ngược lại sẽ không thương mà còn giận hờn, trách móc. Vì sao? Vì cái ta của mình đã phình to ra. Ngay khi ấy ta sẽ không thể cảm thông, chính vì thế tình thương của mình sẽ làm người khác cảm thấy, khó chịu, bức xúc và khổ đau.

Chúng ta đến với nhau mà không có hiểu biết, vô tình sẽ làm người mình yêu thương, đau khổ suốt đời. Hiểu biết chính là nền tảng của tình thương yêu chân thành. Không hiểu biết, chúng ta không thể thật sự thương yêu nhau. Trái tim của ta nếu có hiểu biết, thì tình yêu thương sẽ là nền tảng vững chắc và lâu dài.

Muốn thương yêu phải có hiểu biết 

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc và có ý nghĩa. Tình yêu phải có sự cảm thông và tha thứ, bởi bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

"Từ" theo nghĩa nhà Phật là đem niềm vui đến cho người, còn từ ở đây khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương chính là chất liệu giúp cho con người sống có trách nhiệm hơn, yêu thương chính là sự hiến tặng chân thành. Yêu mà làm khổ đau cho nhau không phải tình yêu đích thực. Có những người khi lấy nhau một thời gian, bắt đầu phát sinh những bất đồng về nhau cho nên nỗi khổ niềm đau làm tan nát hai con tim. Chúng ta yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người đó được hạnh phúc, mỗi ngày.

"Bi" là khả năng giúp cho người mình yêu thoát ra được những cái khổ trong hệ lụy. Mình đã khổ và đang khổ, mà người ta vẫn cứ làm cho mình thêm đau khổ, đó là một thứ tình yêu không chân thật. Không có gì đau khổ bằng trong cơn tuyệt vọng. Người mình yêu phải là người biết chia sẻ, biết an ủi, để làm vơi bớt nỗi khổ niềm đau do hoàn cảnh đưa đến.

Như vậy, quan điểm "từ bi" theo đạo Phật là khả năng hiến tặng để đem lại hạnh phúc cho nhau. Khi chúng ta yêu thương là phải làm cho người ta giảm bớt khổ đau, tăng trưởng thêm hạnh phúc. Nếu không, chúng ta chỉ là đam mê, say đắm trong xác thịt, không phải là tình thương chân thành. "Từ bi" trong tình yêu được biểu cảm qua thái độ có hiểu biết nên mới dễ cảm thông và tha thứ cho nhau. Muốn được như vậy chúng ta phải cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu tâm tính của nhau và thương yêu chân thành hơn.

"Hỉ" là niềm vui đích thực trong tình yêu, làm cho hai con tim được hòa hợp và có sự rung động mãnh liệt. Dấu ấn khó phai của tình yêu đích thực là có sự cảm thông cho nhau, cùng tạo sự hưng phấn để đạt được niềm an vui, hạnh phúc.

"Xả" là không phân biệt, không kì thị trong tình yêu trong vấn đề trọng nam khinh nữ. Mình thương yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình, vì ta và người đó là của nhau. Khi yêu nhau, hạnh phúc hay khổ đau không còn là vấn đề của riêng tư, mà hai người phải có trách nhiệm để cùng san sẻ cho nhau.

Vấn đề hạnh phúc hôn nhân phải do sự hòa hợp của con tim và có sự thông cảm và tha thứ cho nhau. Học thức cao, kinh tế đầy đủ, cũng chưa đảm bảo hạnh phúc gia đình mặc dù hai yếu tố này rất cần thiết trong đời sống lứa đôi. Phật giáo chủ trương và khuyến khích mọi người tin sâu nhân quả nghiệp báo, nhờ vậy ta sẽ biết cách cải thiện đời sống gia đình ngày càng tốt hơn về mọi mặt. Do đó, những chuyện xảy ra cơm không lành canh không ngọt trong đời sống lứa đôi là do chúng ta không chịu nhường nhịn nhau.

Chúng ta yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống và dâng hiến trọn đời, trọn kiếp mà thôi. 

Tình yêu là gì?

Tình yêu đích thực là vô điều kiện, là cho đi mà không mong cầu đáp trả. Thậm chí khái niệm cho và nhận không tồn tại, chỉ còn sự tương giao một cách trọn vẹn và vô ngã. Tình yêu nam nữ phổ biến hiện nay chỉ là sự trao đổi, mà hàng hóa chính là cảm xúc và cảm giác của hai bên. Khi còn ảo tưởng về cái tôi thì không thể xảy ra tình yêu đích thực, vì thế nào cũng có điều kiện nào đó hiện diện. Tình yêu lúc đó dù bắt đầu có nồng thắm đến đâu, dù cảm xúc có mạnh mẽ đến đâu cũng thật mong manh. Vì chỉ cần xuất hiện yếu tố bên ngoài làm cảm xúc - cảm giác của một bên thay đổi, thế là bão táp phong ba liền ập tới.

Khi ta yêu một người tức là ta yêu luôn cả mặt tốt và mặt xấu của người đó. Xấu và tốt như hai mặt của một bàn tay. Ta không thể chỉ giữ lấy một mặt mà bỏ đi mặt kia. Ta luôn tự vẽ ra cho mình một hình ảnh về người mình yêu hay người chồng/vợ của mình. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của ta, không phải con người thực. Vì vậy ta cần nhẫn nại lắng nghe, quan sát và chia sẻ để có thể hiểu rõ về người bạn đời của mình. Khi thấu hiểu cả mặt tích cực và tiêu cực của người ấy, ta mới có thể yêu thương họ thật sự.

Khi ta thật sự yêu thương một người thì người đó sẽ cảm thấy tự do để được là chính họ. Tình yêu đích thực không ràng buộc đối tượng được yêu mà còn là động lực để cho họ đổi mới chính mình. Khi có biến cố xảy ra thì phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, nhưng họ cũng dễ buông bỏ tư kiến của mình hơn. Nếu cô gái biết chấp nhận chàng trai như anh ấy là, thì sẽ có cơ hội để chàng trai thay đổi thái độ của mình.

Quy luật của cuộc sống là vô thường, kể cả tình yêu đôi lứa. Nếu ta đủ nhẫn nại để quan sát, ta sẽ thấy rõ, vị đắng, vị ngọt của tình yêu. Thấy rõ nó sinh ra và mất đi như thế nào. Và khi hiểu rõ, ta sẽ không còn bám chấp vào hôn nhân nhưng cũng không sợ sệt hôn nhân nữa. Ta có thể làm giấy kết hôn với người mình không hề yêu và cũng có thể nhắm mắt ký giấy ly hôn khi mình vẫn còn yêu tha thiết. Hôn nhân hay ly hôn vốn chỉ là hình thức, là một bản hợp đồng mà thôi. Làm sao nó có thể ràng buộc được tâm ta? Quan trọng là khi có biến cố xảy ra, ta cần đối diện với chúng bằng thái độ sáng suốt và trong lành. Vì biến cố đó là như ý hay bất như ý cũng là cơ hội cho ta hiểu thêm về chính mình, về người mình yêu. Và từ đó nhận ra bản chất thật của tình yêu, của cuộc sống.

Đừng tưởng xuất gia đi tu là ta có thể trốn thoát được bài học tình yêu. Với hiểu biết mờ mịt không rõ ràng, bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp vướng mắc tình cảm bất kể ta đang làm gì, ở đâu. Đức Phật có dạy rằng chỉ có thể thoát ly một pháp khi ta đã tường tận mặt tích cực cũng như mặt nguy hại của nó, khi ta nhận biết rõ từ khi nó sinh ra cho đến khi nó mất đi. Nói đúng hơn, lúc đó nó tự thoát ly, chứ không ai làm gì cả.

Hãy nhớ điều quý giá nhất trong cuộc sống chính là sự bất toàn. Vì khi toàn vẹn thì sự sống sẽ kết thúc. Sự bất toàn là một phần của vô thường, một quy luật tất yếu của cuộc sống. Khi ta còn đang sống trong ảo tưởng về bản ngã, về cái tôi và cái của tôi, thì bản ngã luôn cầu toàn và nỗ lực để được như ý. Nhưng những gì nó nhận được từ cuộc sống đều là bất toàn và bất như ý.

Sau những cố gắng và nỗ lực vô vọng, nhờ sự bất toàn ấy mà cuối cùng bản ngã cũng đầu hàng. Ta bắt đầu sống vô ngã vị tha và tự nhiên ta thấy sự bất toàn lại chính là động lực để phát triển và tiến hóa của vạn vật. Chính vì mọi thứ đều bất toàn mà ai cũng có cơ hội làm mới bản thân mình.

Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra. Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn và trở về trọn vẹn với những gì đang diễn ra, ta sẽ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta muốn hay không. Tất cả những thiện - ác trong đời đều "Bất khả tư nghì", tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà nó được gán cho cái nhãn "thiện" hay "ác". Dù những gì đang xảy ra là thiện hay ác, nó đều là bài học giác ngộ vô cùng quý giá về cuộc sống.

--
Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến

         Liên Phật Hội
United Buddhist Foundation
A 501 (c) (3) Non-profit Organization




United Buddhist Foundation - Liên Phật Hội - A non-profit 501(c)3 to connect and dedicate for developing Buddhism, especially Buddhist public communication. - Tổ chức phi lợi nhuận nhằm liên kết và phụng sự cho việc phát triển Phật giáo, đặc biệt là truyền thông Phật  giáo.

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Những điều tôi nhận được từ Phật pháp



Trong bất kỳ một tôn giáo nào, tôn chỉ mục đích giáo lý đều nhằm vào vấn đề đem đến sự bình an và giải thoát khổ đau cho con người. Nhưng không phải tôn giáo nào cũng đạt được mục đích đó. Có giáo phái giải quyết việc chấm dứt khổ đau bằng khải thị Thượng đế qua cầu xin; có giáo phái lại đề cao sự cúng kiến "tốt lễ dễ cầu" để kêu gọi thần linh giúp đỡ khổ đau cho mình bằng nghi lễ vật chất giết heo, mổ gà và dùng máu huyết động vật để cúng thần linh; có giáo phái lại lấy việc thú hướng coi đất xem ngày giờ, tuổi tác tốt xấu để cầu làm ăn giàu sang và giải hạn xấu…

Với tín ngưỡng dân gian tồn tại hàng ngàn năm, bởi những tập quán, tập tục giải thích về vấn đề tâm thức, tâm linh vốn phức tạp lại thêm phức tạp rối rắm, khiến con người sống trong vui buồn chờ đợi, để rồi thất vọng trước cái chết. Tất cả luẩn quẩn trong vòng sinh tử luân hồi bế tắc không có lối thoát. Qua tìm hiểu cho thấy, chỉ có giáo lý Đạo Phật và Duy nhất chỉ có giáo lý này, với kiến giải thâm hậu của Duy thức học mới có thể kiến giải thỏa đáng được những vấn đề lớn thuộc các lĩnh vực của thế giới quan tự nhiên, xã hội, sự vật, con người và tâm linh huyền nhiệm.

1. Duy thức học xua tan bóng ma thần quyền 

Như chúng ta đã biết, thế giới ngày nay, Khoa học phát triển vượt bậc từng bước khẳng định con người chết là không hết và linh hồn hằng còn. Điều này (đối với Phật giáo là không mới), bởi trong Duy thức luận từ lâu giáo lý đạo Phật đã khẳng định: con người chết là chỉ hết cái Sắc thân ngũ uẩn (vật lý) này, nhưng thức linh do nghiệp dẫn tái sinh ở kiếp sau (tức chuyển kiếp) thì hằng còn trong vòng tương tục. Chính vì điều này mà đạo Phật có câu " sắc sắc không không". Thực tế để hiểu được cụm từ này không phải dễ dàng (nếu không tìm hiểu và học giáo lý của đạo Phật) thì không dễ gì nắm được nguyên lý căn bản của sự hình thành vũ trụ, con người và sự vật nói chung. Đặc biệt là vấn đề tâm linh, đây là một phạm trù " mềm" không có khả năng chuyên chở thực tế theo duy lý. Chính vì vấn đề này, mà nhiều nghìn năm nay đã không ít những bậc Thánh triết ra đời tạo lập tông phái nhằm kiến giải vấn đề tâm linh. Song, trên thực tế sự kiến giải vẫn mang nặng tư tưởng tín ngưỡng thần quyền chấp trước chủ quan . Do vậy mà tư tưởng này, vẫn có đất tồn tại dai dẳng và đẩy con người vào vòng bế tắc trong vòng sinh tử luân hồi khổ đau của kiếp nhân sinh. Về vấn đề này xin nhắc lại, chỉ có giáo lý đạo Phật với Duy thức luận sâu sắc mới kiến giải giúp con người hiểu và nhận ra con đường tu giải thoát vượt khỏi vòng xoáy luân hồi sinh tử. Với sự khẳng định trên, chắc không ít người đặt câu hỏi ? Vậy đạo Phật ra đời cách đây trên 2500 năm sao giáo lý này vẫn chưa đến được với đông đảo mọi người ? Xin thưa, giáo lý đạo Phật ra đời thực chất là như vậy, nhưng không phải ai cũng có duyên để kiến lập tư duy và hiểu được giáo lý thâm hậu của đạo Phật. Ngoài ra còn chưa kể đến các yếu tố lịch sử khác. Và phải đến ngày nay, khi Phật giáo phát triển, cùng với tư duy logic khoa học hiện đại đồng hành soi chiếu, thì vấn đề tâm linh và nhiều phạm trù khác liên quan đến con người mà Phật giáo đề cập mới được làm sáng tỏ và đem lại lợi ích đích thực cho đông đảo mọi người khi đến với giáo lý này.

Thực tế, giáo lý đạo Phật ra đời không phải để chờ khoa học giải thích như một số người hiểu lầm cho rằng, Phật giáo mạo danh khoa học, mà thực tế trên diễn đàn khoa học ngày nay, đã không ít các học giả và các nhà khoa học hàng đầu thế giới thông qua việc nghiên cứu về vũ trụ quan và nhiều phạm trù khác của đạo Phật đã phát biểu và cho rằng: Nếu khoa học bỏ ra ngoài, có nghĩa là không tìm hiểu giáo lý của tôn giáo nói chung, trong đó có Phật giáo, thì tương lai các ý tưởng khoa học sẽ bế tắc, nếu không muốn nói là khoa học tự chặn con đường đi của mình lại. Và Phật giáo nếu không có khoa học cùng đồng hành giải thích những vấn đề thâm hậu của giáo lý, thì giáo lý đạo Phật sẽ không đến được với đông đảo mọi người. Một thực tế chứng minh cho thấy sự tương đồng giữa Phật giáo và khoa học trong cấu trúc của vật chất với Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên của đạo Phật mà đức Phật nói tới cách đây trên 2500 về các cõi giới vô hình trong vũ trụ và cõi giới tâm linh. Đây là những vấn đề khó kiến giải, thì nay đã được các nhà khoa học hàng đầu thế giới chứng minh, giúp cho con người tin sâu hơn vào giáo lý vi diệu của đạo Phật, mà bấy nay không ít người vẫn cho là mơ hồ.

2. Khoa học và Phật giáo cùng đồng hành soi chiếu

Khoa học ngày nay đã biết khá nhiều về thế giới vật chất mà đa số tuyệt đối các nhà khoa học cho là vật chất khách quan ở ngoài ý thức (theo duy vật). Người ta biết rằng vật chất không phải là một thể thống nhất, mà nó được cấu trúc từ những phân tử rất nhỏ gọi là nguyên tử.

Theo tác giả Truyền Bình với nhiều bài viết đối chiếu và so sánh giữa Phật giáo và khoa học cho rằng: Khoa học ngày nay thế kỉ 20 còn thâm nhập vào bên trong của nguyên tử tìm hiểu những hạt cơ bản tạo ra vật chất, vì những hạt này ở mức độ nhỏ hơn, thấp hơn nguyên tử nên người ta gọi chúng là những hạt hạ nguyên tử. Và đến cuối thế kỷ 20, người ta còn thâm nhập sâu hơn nữa vào cấu trúc của hạt proton và hạt neutron và thấy rằng chúng được cấu tạo bởi hai hạt: quark up và quark down".

Như vậy chỉ với 3 hạt trên đã tạo ra tuyệt đại đa số vật chất trên quả địa cầu của chúng ta. Các sinh vật cũng hình thành từ những hạt này mà thôi, tiến hóa chất vô cơ đến chất hữu cơ… và cuối cùng là con người diễn tiến vô cùng phức tạp và kỳ diệu cũng đã được khoa học kiến giải cho thấy Phật giáo và Khoa học có nhiều mặt tương đồng thật bất ngờ. Trong giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên của Phật giáo cũng mô tả thế giới vật chất và thế giới sinh vật bằng cấu trúc trùng trùng duyên khởi của nhân duyên mà yếu tố căn bản là vô minh và yếu tố cuối cùng trong chuỗi 12 nhân duyên này là lão tử, xoay vòng như mắc xích. ( vô minh, hành, tưởng, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử)

Khoa học và Phật giáo giống nhau ở chỗ mô tả thế giới là cấu trúc. Cấu trúc chính là bản chất của thế giới, đó là sự tương tác lẫn nhau của đủ loại cấu trúc, tuy khác nhau về hình tướng nhưng đồng nhau về bản chất.

Về sự biến đổi, cũng như tuổi thọ của vạn hữu và tính chất vô thường của vạn vật, khoa học đã chứng minh là tất cả mọi vật từ một hạt cơ bản hạt nguyên tử cho đến vũ trụ bao la đều có tuổi thọ hữu hạn, mọi sự vật đều luôn biến đổi, luôn luôn chuyển động từ trạng thái này sang trạng thái khác, nhanh hay chậm tùy sự vật, nhưng biến đổi là bản chất của sự vật. Về điều này Phật Giáo cũng nêu tính chất vô thường của vạn vật, mọi vật đều luôn biến đổi qua 4 trạng thái: Thành, trụ, hoại, diệt và không có gì thoát khỏi quy luật này. Tính chất vô thường hay bản chất sinh diệt là điểm đặc trưng của thế giới chúng ta đang sống. Đó là giáo lý căn bản của đạo Phật đã nêu rõ tong kinh điển.

Về nhìn nhận vũ trụ, Khoa học với những phương tiện quan sát thám hiểm không gian hiện đại, biết rằng vũ trụ rất rộng lớn, bán kính có thể tính được bằng tỷ quang niên. Trong vũ trụ có vô số thiên hà và các hệ hành tinh. Những năm gần đây, khoa học đã khám phá ra nhiều hành tinh cũng tương tự như trái đất của chúng ta, tuy nhiên khoa học chưa tìm thấy tín hiệu của một nền văn minh khác ngoài trái đất. Trong khi đó, Kinh điển Phật giáo trên 2500 năm trước, đức Phật đã đề cập đến Tam giới bao gồm, Dục giới, Sắc giới. và vô sắc giới. Chỉ riêng cõi Dục giới thôi đã rộng lớn hơn vũ trụ mà chúng ta quan niệm vì ngoài cõi vật chất. Trong cõi Dục giới còn bao gồm cõi trời Lục Dục thiên, mà các giác quan của chúng ta (mắt phàm) không thể tiếp xúc được. Như vậy, ta thấy Phật Giáo đã đưa ra quan niệm Đa vũ trụ, các vũ trụ chồng chất lên nhau mà phần lớn đều hoàn toàn vô hình đối với giác quan của chúng ta, nên tuyệt đại đa số con người không thấy được các cõi giới đó. Vì không thấy không cảm nhận được, con người bèn cho rằng không có và không tin. Cũng giống như chung quanh ta có rất nhiều sóng vô tuyến, sóng điện tử, sóng cực vi…mà ta không thể cảm thấy trực tiếp được. Chỉ khi có các thiết bị như Radio, ti vi, smart phone, hoặc những nhà ngoại cảm mới thấy được âm thanh, hình ảnh, tín hiệu và thế giới vong linh ở cõi âm. Đa vũ trụ cũng được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay mô tả điển hình là nhà vật lý người Anh Stephen Hawking.

Cái mà chúng ta thấy được và cảm nhận được trong "hiện tiền" chỉ là một phần rất nhỏ của đa vũ trụ vô lượng vô biên mà Phật giáo từ lâu đã diễn tả trong thuật ngữ "Tam thiên Đại thiên thế giới".

Nếu Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà đức Phật qua Chánh Đẳng Chánh giác thấy được, đến nay khoa học đã chứng minh. Thì trong kinh có câu "Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức" của Phật giáo, so với thuyết tương đối của Einstein đối chiếu cũng cho là tương đồng. Bởii Thuyết tương đối của Einstein tập trung ở ba điểm quan trọng: Không gian, thời gian và khối lượng vật chất là tương đối, Tương đối nghĩa là không tồn tại độc lập, không tồn tại độc lập là phụ thuộc vào một cái khác, hay phụ thuộc lẫn nhau. Tương đối có nghĩa là có thể co dãn, có thể thay đổi. Thuyết tương đối ngày nay đã được các nhà khoa học kiểm chứng. Bởi giữa khối lượng và năng lượng có sự tương đương và liên hệ chặt chẽ được thể hiện qua công thức nổi tiếng của Einstein. E (năng lượng)= M (khối lượng vật chất) x C2 (vận tốc ánh sáng). Cho nên, nếu khối lượng là tương đối, có thể thay đổi, thì năng lượng cũng thế, có thể thay đổi, năng lượng có thể biến thành khối lượng vật chất. Về điều này, chúng ta thấy Phật Giáo nói rằng Tâm cũng là một dạng năng lượng, chẳng những vậy, tâm còn là một năng lượng vô hạn. Nếu làm chủ được Tâm thì cả vũ trụ này sẽ được thâu nhiếp thu nhỏ trong lòng bàn tay. Đó chính là ý nghĩa của câu "Tam giới duy Tâm".

Căn cứ những nghiên cứu thực nghiệm và đối chiếu sự tương đồng giữa Khoa học và Phật Giáo. Khoa học hiện đại ngày nay cho rằng vũ trụ của khoa học và vũ trụ quan của Phật giáo đã tiếp cận. Các khoa học gia hàng đầu thế giới ngày nay không còn coi thế giới là duy vật khách quan nữa mà đã bắt đầu hiểu tâm ý con người có ảnh hưởng quyết định đến vật chất. Như vậy, từ xa xưa Phật giáo đã cho rằng tất cả các Pháp không có tự tính. Kinh Hoa Nghiêm nói: "Tâm như họa công sư, họa chủng chủng ngũ ấm - Nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo - Nhất thiết pháp vô tự tính (nghĩa là Tâm như họa công sư khéo tay, vẽ đủ thứ ngũ ấm, trong tất cả thế giới, không pháp gì mà không tạo ra được… tất cả các pháp đều không có tự tính)

Chính vì các pháp không có tự tính, mọi tính chất, mọi đặc trưng của các pháp đều do tâm của con người gán ghép cho các sự vật, theo đúng như cơ chế của việc gán ghép ý nghĩa vào tiếng nói và chữ viết. Điều này Phật giáo nói rằng "Nhất thiết duy tâm tạo".

Và kinh Hoa Nghiêm có kệ diễn tả:

"Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán Pháp giới tính
Nhất thiết Duy tâm tạo."

Dịch:

"Nếu có người muốn biết rõ
Tất cả Phật trong ba đời
Hãy xem xét bản chất của Pháp giới
Tất cả đều do tâm tạo."

Tất cả đều do tâm tạo, đó là Phật giáo từ xa xưa đã khẳng định. Và bây giờ qua nghiên cứu thực nghiệm các nhà Khoa học hiện đại cũng chứng minh và cho rằng: Vật chất chỉ là một cấu trúc ảo không thật, tâm gán ghép các tính chất đặc trưng cho vật. Các hạt cơ bản tự nó không có tính chất đặc trưng gì cả: Tâm gán cho chúng các đặc trưng như vị trí, khối lượng, điện tích, số spin. Sau khi gán ghép, chúng mới hiển thị thành hạt. Về điều này các nhà khoa học đã thí nghiệm. Một trong các thí nghiệm nổi tiếng nhất, đó là thí nghiệm về Hai khe hở. Khi bị quan sát thì vật chất thay đổi. Chứng tỏ sự quan sát của con người ảnh hưởng tới vật chất.

3. Pháp giới duyên sinh - Duy tuệ thị nghiệp 

Giáo lý đạo Phật đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhưng về vấn đề Đa vũ trụ và siêu hình đức Phật khuyên các đệ tử không đi sâu vào vấn đề này, bởi nhiều vấn đề vượt quá tầm mức hiểu biết của con người. Và không cần thiết cho việc tu giải thoát. Trong giáo lý của đạo Phật chúng ta thấy hầu hết các bộ kinh Nguyên thủy và Đại thừa, đức Phật chỉ tập trung chỉ dạy phương pháp tu hành để đoạn trừ Tam độc, Ngũ trược. Đây là những yếu tố căn bản làm che mờ tánh giác, kìm hãm sự tu hành giải thoát. Đề cập về vấn đề tâm linh, một lĩnh vực khó kiến giải trong vòng tương tục của lục đạo luân hồi. Giáo lý đạo Phật căn cứ vào căn cơ của từng chúng sinh mà chỉ bày phương pháp tu trì. Với sự chết, đây là vấn đề quan trọng không chỉ đối với cõi người chúng ta, mà với cả cõi thiên. Tìm hiểu kinh điển chúng ta thấy: ngay cả cõi thiên tuổi thọ có đến cả vài trăm, thậm chí có khi hàng ngàn năm, nhưng khi nói đến sự chết và đọa lạc, với cõi thiên trước cái chết cũng phải bàng hoàng lo lắng về sự sinh tử luân hồi, chứ nói chi đến cõi Ta- bà của chúng ta. Khi kiến giải về sự chết, giáo lý đạo Phật nói về Nghiệp dẫn trong quá trình chuyển thế ta thấy yếu tố Thiện, Ác được đặt lên hàng đầu, bởi chính con người tạo tác và chịu nhân quả, chứ không phải ai khác. Đây là một giáo lý hợp với logic hay nói đúng hơn là một chân lý siêu tuyệt tối thượng, vượt khỏi tôn giáo Thần quyền. Về nội dung này, đức Phật dạy:"Duy tuệ thị nghiệp". Tất cả đều phải buông bỏ, chỉ có nghiệp theo ta vào lúc chuyển thế tái sinh.

Là người bước đầu đến với đạo Phật, nhưng với giáo lý về Ngũ uẩn, Vô thường, Nhân quả và Nghiệp dẫn của đạo Phật, người viết bài này trộm nghĩ không chỉ riêng mình mà tất cả những ai đã có duyên lành đến với đạo Phật, đều cảm thấy như cất được gánh nặng và nhẹ lòng khi gặp được giáo lý đạo Phật soi sáng, xua tan bóng ma của mê tín Thần quyền, mà bấy lâu bị ám ảnh lo sợ đeo bám về nỗi sinh tử của kiếp con người.

Trong quy luật sinh tử, lẽ thông thường ở thế gian đều cho rằng, chết là hết, là trắng tay. Khi nói về sự chết con người thường né tránh. Khổng Tử có đến 3000 đệ tử đều là bậc hiền triết, nhưng khi bàn đến chuyện sinh tử, ông nói với học trò: "Việc sống còn chưa hiểu, sao nói đến việc chết". Lão Tử, Trang Tử đều là lãnh tụ của thuyết vô vi. Lão Tử sinh thời chu du khắp thiên hạ đọc hết kho sách nhà Chu và cuối đời về ở ẩn, không tiếp xúc với ai rồi chết hóa thân không ai biết! Trang Tử là môn đệ của Lão Tử cũng theo thuyết này, ông cũng đã chạm đến tư tưởng giải thoát như Phật giáo, nhưng còn kẹt sâu vào ngũ uẩn hữu lậu, bởi vậy mà than rằng: "Nếu không có cái thân này…". Như vậy, Trang Tử cũng bế tắc bởi còn dính mắc cái thân ngũ uẩn thô trược này như lời than của ông lúc về già. Nhưng với giáo lý Đạo Phật, thì Đức Thế Tôn nghĩ khác, và dạy : " Thân người khó được, Phật pháp khó gặp". Nghĩa là thân người có được là quý, nhưng chỉ mượn cái thân này (khéo tu) để giải thoát lục đạo luân hồi, để trở thành chân nhân, Thánh Hiền, để có được Pháp thân vô ngại. Vậy từ phàm đến Thánh là cả một lộ trình tu hành đầy gian nan và trí tuệ mới đạt được mục đích trên, chứ đâu phải do một đấng thần quyền nào ban phát cho mà được.

*** 

Như chúng ta đã biết, Ấn Độ là một trong những nước văn minh thời cổ đại, từng có nhiều triết gia xuất chúng thế nhưng, không phải là không có những chủ thuyết sai lầm và lạc hậu; mà chủ trương tệ hại nhất chính là sự phân biệt chủng tộc và tự tôn giai cấp một cách mù quáng của tu sĩ Bà-la- môm lúc bất giờ. Do đó, sau khi chứng đạt Vô Thượng Chánh Giác, đức Phật đã vận dụng trí tuệ siêu tuyệt, vạch trần chủ trương phi lý của họ. Đặc biệt là giai cấp Bà- la- môn độc tôn Thần quyền cho rằng: " Chỉ có Bà-la-môn là chủng tộc tối thượng, các chủng tộc khác là thấp hèn; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các chủng tộc khác là không thanh tịnh. Các Bà-la-môn là con chính thống của Phạm Thiên, do Phạm Thiên sinh ra, được quyền thừa tự Phạm Thiên." (Trung bộ kinh II,84)

Để phản bác quan điểm sai lầm này, đức Phật tuyên bố: " Này Bà-la-môn, nếu tự thể được sinh ra trong chủng tộc Bà-la-môn thì người ấy được công nhận là Bà-la-môn. Nếu tự thể được sinh ra trong chủng tộc Sát-đế-lợi thì người ấy được công nhận là Sát-đế-lợi. Nếu tự thể được sinh ra trong chủng tộc Phệ-xá, Thủ-đà, thì người ấy được công nhận là Phệ-xá, Thủ-đà. Này Bà-la-môn, cũng như ngọn lửa từ vật gì được đốt lên thì nó được gọi tên tùy theo vật ấy. Ví dụ ngọn lửa được đốt lên từ củi, thì gọi là lửa củi; từ dăm bào thì gọi là lửa dăm bào; từ cỏ thì gọi là lửa cỏ; từ phân bò thì gọi là lửa phân bò. Cũng vậy, này Bà-la-môn. Ta nhớ lại những gia tộc xa xưa của mình, chỗ nào tự thể được sinh ra, thì tự thể ấy được công nhận tùy theo gia tộc ấy. Riêng Ta, Ta chủ trương Thánh pháp là sở hữu tối thượng của mỗi người." (Trung bộ kinh II,181).

Đề cập về phẩm hạnh, trong kinh điển đức Phật cũng nói rõ, sự giác ngộ của con người không lệ thuộc vào giai cấp cao sang hay thấp hèn: 

" Này Bà-la-môn, ông phải hiểu rằng: Nếu một người Bà-la-môn có những hành vi phi pháp, như ăn trộm hoặc giết người, thì nó được gọi là tên trộm cướp, là kẻ sát nhân, và danh xưng Bà-la-môn của nó trước kia đã biến mất. Trái lại, nếu một người Thủ-đà học rộng có phẩm chất cao quý, thì thiên hạ gọi người ấy là nhà bác học, là bậc Hiền triết, và danh xưng Thủ-đà của người ấy trước kia nay không còn nữa."(Trung bộ kinh II,88).

Trả lại quyền cho con người, và khai phóng tự do giải thoát cho chúng ta đức Phật khẳng định: "Có những người sinh ra trong ánh sáng và đi về phía ánh sáng. Có người sinh ra trong ánh sáng để đi vào bóng tối. Có người sinh ra trong bóng tối, nhưng đi về phía ánh sáng.. Và cuối cùng là có những người sinh ra trong bóng tối, để tiếp tục đi trong bóng tối. Điều đó có nghĩa là dầu ta được sinh ra trong bất cứ hoàn cảnh nào, ta vẫn có nhiều cơ hội để lựa chọn."

Thực tế cuộc sống mách bảo, dẫu con người giỏi dang nhiều thứ, nhưng trước cái chết con người thường yếu đuối và bàng hoàng. Thầy Thích Trí Quảng trong bài viết: " Suy nghĩ về kiếp người."cho rằng: Người ta thường nghĩ, kiếp của một con người, từ khi sinh ra cho đến già và chết. Tức là sinh ra để rồi kết thúc bằng cái chết. Nếu kiếp người chỉ đơn giản như vậy, thì thật ra không đáng sống.

Nhưng với đức Phật, thì có suy nghĩ xa hơn và Ngài thấy được phía bên trong của con người có cái gì khác nữa. Sự khác biệt này, được Kinh Hoa Nghiêm diễn tả: Đó là Pháp giới Duyên sinh.

Trong kinh Pháp hoa đức Phật nói rằng: " Ta vì những người nhàm chán sinh, già, bệnh chết, nên nói pháp Niết-bàn (giải thoát). Đây là pháp đầu tiên Ta chuyển bánh xe pháp. Đó là Tứ thánh đế. tức bốn chân lý không thay đổi." (xin tìm hiểu thêm về pháp này).

Từ bốn chân lý này đức Phật mở ra cho chúng ta cuộc sống có ý nghĩa hơn. Đó là hai con đường sống: một là khổ đau (nếu theo ngũ dục); hai là cuộc sống an lạc (theo đạo Phật giữ giới hạnh).

Nếu chọn con đường đi lên, là thiên đường hay Niết-bàn; hoặc chọn con đường đi xuống địa ngục, ngã quỷ là do ta lựa chọn. Đời sống khổ đau hay vui buồn cũng do chính bản thân mình tạo nên. Đây là tư tưởng mới cần cho con người ở mọi thời đại. Tư tưởng này nảy sinh từ đức Phật. Trái ngược với tư tưởng Thần quyền cho rằng, con người khổ đau hay vui sướng đều do thần linh, Thượng đế quyết định (tức Thượng đế toàn năng). Phủ nhận điều này, đức Phật dạy rằng: "Con người quyết định chính vận mạng của mình" và chúng ta không giao vận mạng của mình cho người mà mình không quen biết. Để kết thúc bài viết này, chúng ta hãy nghe một đối thoại nhỏ, nói về tư tưởng độc tôn Thần quyền thiếu chánh kiến và tư duy của Bà-la-môn giáo với Đức Phật được ghi trong kinh điển dưới đây:

" Đức Phật hỏi Bà-la-môn:

Ông có biết hay thấy Thượng đế hay không. Ông ta trả lời không thấy, cũng không biết Thượng đế.

Và đức Phật lại hỏi:

- Sao ông tin Thượng đế. 

Ông nói: tại vì cha của con, ông của con, Tổ tiên của con nói có Thượng đế.

Bấy giờ Phật dạy rằng:

"Đừng tin những gì được nhiều người trước ta tin. Muốn tin phải kiểm chứng, coi điều ta tin có hợp lý không. Nếu không hợp lý ta không tin. Và thấy hợp lý rồi cũng phải kiểm chứng." Để có chánh tín, ngay cả những lời đức Phật dạy, Ngài cũng khuyên chúng ta cần phải kiểm chứng, rồi hãy làm theo.

Như vậy, học Phật pháp không hề cản trở việc học tập ở thế gian; kiến thức Phật pháp cũng không đối lập với kiến thức thế gian. Duy chỉ có khác biệt là Phật dạy chúng ta nên nhìn thẳng vào nỗi khổ đau của con người, để chuyển hóa nó trở thành hạnh phúc đích thực. "Duy tuệ thị nghiệp". Đó là lời Phật dạy chúng ta trên con đường tìm về chân lý giải thoát khổ đau.

Tài liệu tham khảo:

- Hành trình về Phương Đông. Nguyên tác: SPALDING. Nguyên Phong dịch.

- Bài: Khoa học hiện đại hướng đến Phật giáo. Cư sĩ Truyền Bình (PGVN)

- Bài: Đối chiếu Khoa học và Phật giáo. Tác giả Truyền Bình (báo biện tử Đạo Phật ngày nay).

- Tâm và Pháp. Cư sĩ Truyền Bình (tạp chí Nghiên cứu Phật học-số 1-2017.

- Sự bất tử của tâm thức và cơ học lượng tử. Kỷ Tiểu Minh-Dịch giả Việt Nguyên (PGVN)

- Trang Tử. Thu Giang- Nguyễn Duy Cần. Nxb-Tp- HCM- 1992.

- Từ điển Nho Phật Đạo. Lão Tử -Thịnh Lê (biên soạn- Nxb- Văn học-2001)

--
Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến

         Liên Phật Hội
United Buddhist Foundation
A 501 (c) (3) Non-profit Organization




United Buddhist Foundation - Liên Phật Hội - A non-profit 501(c)3 to connect and dedicate for developing Buddhism, especially Buddhist public communication. - Tổ chức phi lợi nhuận nhằm liên kết và phụng sự cho việc phát triển Phật giáo, đặc biệt là truyền thông Phật  giáo.